Pricing Table Particle

Quickly drive clicks-and-mortar catalysts for change
  • Basic
  • Standard Compliant Channels
  • $50
  • Completely synergize resource taxing relationships via premier market
  • 1 GB of space
  • Support at $25/hour
  • Sign Up
  • Premium
  • Standard Compliant Channels
  • $100
  • Completely synergize resource taxing relationships via premier market
  • 10 GB of space
  • Support at $15/hour
  • Sign Up
  • Platinum
  • Standard Compliant Channels
  • $250
  • Completely synergize resource taxing relationships via premier market
  • 30 GB of space
  • Support at $5/hour
  • Sign Up

 

Dòng người theo cầu thang máy nối đuôi xuống nơi nhận hành lý. Đợi nơi tầng dưới ở phi trường Bush International Airport chưa đầy 10 phút mà tưởng chừng thời gian dài vô tận. Tôi nhận ra ngay khi cô xuất hiện nơi cầu thang. Dáng người thon nhỏ tuy tuổi đã cao. Cô gầy so với người dân tại đây. Hai tay buông thỏng, mắt nhìn xuống có vẻ sợ trượt chân vì thang máy cứ lăn đều đưa hành khách đáp phi cơ xuống nơi nhận hành lý. Đây là chuyến bay từ Việt Nam đến, chuyển tiếp tại Tokyo và Los Angeles mang cô đến thăm tôi. Sau hàng chục năm không gặp, nhưng tôi nhận ra ngay hình dáng đó là em tôi. Không phải vì vóc dáng cô là người Á Đông; nhưng hình như có sợi dây vô hình mặc khải. Xuống hết cầu thang máy cô theo dòng người đến nơi lấy hành lý. Dáng đi nghiêng nghiêng, nhẹ nhàng. Tôi nhìn Kim Anh ra hiệu. Chúng tôi tản bước theo sau. Tôi buột miệng:
 
-  Cô nầy thấy quen quen!
Hình như cô ngơ ngác. Tôi đập nhẹ vai, cô quay lại. Sau giây phút bỡ ngỡ cô khóc ôm chầm lấy tôi.
-  Sao anh Năm già quá vậy?
Tôi không trả lời, nhưng hỏi lại:
-  Cô đi đường có khỏe không?
Cô gật đầu không nói. Tôi lấy chiếc khăn giấy đưa cô lau hàng nước mắt chảy dài bên má, và giới thiệu Kim Anh. Hai người thân thiện ôm nhau.
-  Em nhận ra cô Út ngay khi cô xuống cầu thang. Hai anh em giống nhau lắm!
 
Kim Anh nhìn tôi và nhìn cô Út. Tôi cảm thấy lâng lâng. Cảm giác thật dễ chịu, nhẹ nhàng khó lòng diễn tả. Tôi chụp bức ảnh kỷ niệm đầu tiên khi cô đến Hoa Kỳ. Trên đường về chúng tôi không nói nhiều. Hai "cô thì thầm to nhỏ". Thật ra cô em tôi không còn bé như ngày nào, đáng lý phải nói là "hai bà trò chuyện" thì đúng hơn; và vì nay tai tôi không còn nghe được "chiếc lá rơi sau vườn" như đã từng tự hào nên nghe hai người thì thầm là vậy. Tuổi đời, sự suy thoái ngũ quan và thể lực nào ai tránh khỏi. Tôi rời Việt Nam hơn bốn thập niên. Khi ra đi vừa trên tam-thập mà nay là lão ông trên thất-thập. Hình ảnh tôi hôm nay khác xa dáng dấp ngày xưa mà cô em tôi in trong đầu, nên không lạ gì cô chẳng nhận ra tôi khi gặp nhau sao bao năm xa cách.
 
 Trên đường về nhà, tôi nói ít để cô em có dịp nhìn ngắm quang cảnh hai bên đường lướt nhanh theo tốc độ chiếc xe thoăn thoắt. Xa lộ vắng vẻ khi mặt trời xuống và ánh đèn nổi lên muôn màu. Tôi lái xe băng qua thành phố Houston để cô em có dịp nhìn ngắm thành phố lớn hàng thứ tư ở Hoa Kỳ về đêm. Vài cao ốc đã giăng đèn chuẩn bị cho mùa Tạ Ơn - Giáng Sinh - New Year. Thành phố rồi đây sẽ nhộn nhịp, tưng bừng đón mừng. Hoa đèn sẽ được giăng đầy đường phố, từ cao ốc đến các khu gia cư. Vào mùa này, thành phố Houston sẽ thiệt đẹp đêm về, cũng như lòng tôi mở hội khi gặp cô em Út đêm nay.
 
 Chúng tôi sanh trưởng trong gia đình nghèo. Nghèo tiền, nghèo bạc nhưng không nghèo tình thương, không nghèo tôn ti trật tự. Qua kính chiếu hậu, mắt cô đang thu từng khung ảnh bên ngoài mà cô chưa từng thấy ngoài đời. Đây là chuyến đi đầu tiên ra khỏi nước. Sau 30-4, cô không còn làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh nữa. Cuộc sống khắc nghiệt đổ lên đầu cô cũng như hầu hết công dân miền Nam Việt Nam...  Cô Út phải đi bộ hằng 10 cây số mỗi lần đi và về; làm lụng từ mờ sáng đến mờ tối mới có chút ít gạo để nuôi sống thân cô và má tôi. Trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc bao nhiêu năm không đủ để kiếm được việc làm tương xứng, mà phải lao lực "đem mồ hôi đổi lấy bát cơm"Có lẽ nhờ xuất thân từ gia đình "Nghèo" nên được xét lại, và sau này được tuyển dụng vào công việc hợp với khả năng và sở học của mình. Nhưng chẳng bao lâu sau, cô Út bị tai nạn và bị bãi nhiệm.
 
Cuộc sống cô độc khi tuổi gần bảy mươi, lắm lúc nghĩ cũng buồn nhưng mỗi người một số phận; tuy vậy cô Út không cô đơn vì ở cùng gia đình chị Tư và được mấy cháu coi như mẹ. Được cô kể trước khi đi Mỹ, các cháu đưa đi mua sắm những thứ cần vì các cháu không muốn cô mình đi xa thua sút mọi người. Cái cell phone mới tinh là bằng chứng. Cuộc sống ở Việt Nam, nhất là gia đình tôi tôn ti trên thuận dưới hòa. Trong khía cạnh nào đó, cuộc sống cô Út còn đầm ấm hơn tôi bây giờ, bởi gia đình là mái ấm chúng ta không tìm đâu ra nếu một mai bị đánh mất. Kim Anh mua cho cô thuốc sơn móng tay, cô nhìn bàn tay mình với các móng bị nứt nẻ, đôi mắt thật buồn. Đôi mắt của má tôi! Được biết cô lo ăn uống cho cả gia đình vì các cháu phải tất bật "Cơm áo gạo tiền". Cô lo các cháu, đến quên cả nhan sắc trời ban cho phụ nữ tàn phai lúc nào không hay. Nghe vài mẩu chuyện "nho nhỏ" gói gọn gần nửa thế kỷ đời cô sao lòng quặn thắt.
 
 
 Hôm nay, hai anh em ngồi ăn. Nhìn bàn tay cô với những ngón dài thật giống má. Cô ngồi đó với vóc dáng làm tôi nhớ má vô cùng. Trên bàn thờ có lẽ ba má đang nhìn xuống hai đứa con tưởng không có ngày gặp lại; nhưng thật hạnh phúc có buổi cơm chiều dưới ánh đèn khi trời mùa Thu sẫm tối. Từng chiếc lá vàng bay bay theo gió, gieo rắc trên lối đi như số phận của tôi khi lìa cành, thì biết bao giờ quay về chốn cũ. Cô Út qua đây từng ấy ngày, rồi cô cũng lại xa tôi trở về với gia đình người chị. Còn tôi cũng trở về nếp sống "không một tiếng nói" trong căn nhà thênh thang. Từ ngày có cô Út đến ở, nhiều lần làm tôi giật mình; vì đang đêm bỗng nghe tiếng chân khua động không gian tĩnh lặng tôi quen. Hai anh em ngồi ăn nhưng ít nói, vì đã nói hết những gì muốn hỏi, muốn biết về cuộc sống của anh Năm, của Cô Út. Sau bữa ăn cô trở về không gian tạm của cô trong căn nhà, và tôi trở về phòng học cặm cụi dưới ánh đèn quên cả thâu đêm.
 
 Tôi cảm ơn các người bạn của cô thời thơ ấu, đã cho cô sống lại kỷ niệm ngày xưa còn bé. Tôi thấy tia sáng lóe trong ánh mắt dịu buồn khi trò chuyện cùng bè bạn. Tôi nghe tiếng cười tuổi thơ khi kể về kỷ niệm... Và, có những bàn tay nồng ấm san sẻ tình bằng hữu bất diệt. Cũng nhờ những người bạn này mà cô mạnh dạn qua thăm tôi. Tình bằng hữu ngày xưa như chất xúc tác nhiệm mầu, mà theo cô Út rất mầu nhiệm vì trong một email cô viết "Em có nằm mơ cũng không dám nghĩ rằng có ngày được gặp anh trên đất Mỹ"! Mà chính tôi cũng không ngờ mọi thủ tục từ lúc bắt đầu đến khi hoàn tất chỉ trong vòng vài tháng.
 
 Hôm nay tôi đưa cô đi mua sắm. Anh trai đâu biết mua gì cho cô đây. Mua cho cô đôi giày "BaTa" để dễ đi đó đi đây. Hình như đôi giày này còn xa lạ so với đôi giày cô mang theo từ Việt Nam mà mấy cháu sắm cho. Có lẽ vì chiều lòng anh nên cô miễn cưởng chọn lựa giày; và tôi mỉm cười mỗi khi cô mang đôi giày này ra phố cùng bè bạn. Kim Anh, các cháu và bè bạn cô cũng đưa cô đi mua sắm. Và, lúc ban đầu mỗi khi ra khỏi nhà, trông cô rất e thẹn trong loại y phục chưa quen. Cô sang thăm tôi nhằm lúc, nên đưa cô đi đám cưới, bay sang Santa Ana, LA tham dự ngày kỷ niệm nhập trường của tôi; đồng thời cô có dịp gặp lại các người bạn thuở nhỏ sống vùng đất này. Cô có những ngày thật hạnh phúc cùng bè bạn và thăm bãi biển bờ Đông Thái Bình Dương. Những người bỏ xứ ra đi sống ở Thủ Đô Người Việt tỵ nạn luôn hướng mắt về quê cha mỗi khi ánh dương dần khuất phương Tây. Các con chim hải âu bay lượn quanh vùng hay đậu trên nóc khu thương mại Phước Lộc Thọ, như nhắc nhở hai lục địa Á - Mỹ chỉ cách nhau hai bờ đại dương mà nghìn trùng xa cách. Các cô cháu con người bạn thân mà chúng tôi ở trọ trong thời gian lưu lại đây đã cho cô Út tình thương của người thân ruột thịt, mà giờ này cô còn nhắc.
 
 Tôi cảm ơn tất cả những người bạn của cô, của tôi và con cháu đã cho cô thật nhiều cảm tình; ấm lòng mỗi khi nghĩ đến. Ngày sinh nhật của tôi năm nay, các con cháu tề tựu đầy đủ để mừng sinh nhật cha mình và để chào mừng cô Út đến vùng đất hứa. Cô vẫn xưng hô "Anh Năm" với tôi như ngày xưa, nhưng tôi đổi cách xưng hô "Cô Út" lúc nào không biết. Niềm vui và nỗi buồn theo thời gian len vào cuộc sống con người. Tôi nhớ nhiều thứ không đáng nhớ mà lại quên nhiều thứ không nên quên. Tôi không đổ lỗi cho tuổi già, nhưng có lẽ tập quên không đúng chỗ. Đáng buồn thay, khi cô Út sang Tuy Hòa nơi tôi làm việc, sống với gia đình tôi ba năm trời để học xong bằng Tú Tài mà tôi quên bẵng. Cô có mang theo bức hình cô chụp với nhà tôi cùng người bạn dưới chân núi Chóp Chài, Tuy Hòa mà tôi vẫn không nhớ ra. Tôi tin sức chứa của khối óc con người có mức giới hạn; chúng ta khi còn nhỏ tập luyện trí nhớ để học hành đỗ đạt, nhưng đến khi già mấy ai tập quên để làm vơi đi sức chứa của khối óc hầu học hỏi điều mới lạ?! Nhưng ở tuổi tôi, không cần tập quên vẫn quên; mà có học điều mới vẫn không nhớ! Khổ vậy!
 
 Nhưng có một điều tôi không quên là trước khi Cô Út rời nơi đây, tôi sẽ đưa cô viếng chùa nơi có nắm tro cuối đời nhà tôi nương náu. Để Cô Út thăm "Chị Năm" là người chị dâu mà Cô Út nhắc nhở và cả gia đình thương mến. Tôi còn nhớ, thời gian đầu khổ sở nơi xứ người, dù chắt chiu từng đồng cắc, nhưng nhà tôi không hề quên gởi quà thăm nuôi, thuốc men để gia đình tôi được sống còn ở Việt Nam trong lúc giao thời gạo châu củi quế. Nay "Chị Năm" không còn, nhưng những gì lo cho gia đình như đóa hoa thật đẹp trong quyển ký ức gia đình.
 
 
 Đáng lý đợi cô Út rời nơi đây mới viết về cô ấy. Nhưng quên-nhớ, nhớ-quên là động lực khiến tôi viết về cô em Út lâu ngày không gặp. Gia đình tôi nhỏ bé ở Việt Nam, lại càng nhỏ hơn vì người Chị Hai vừa qua đời. Mai đây cô trở về quê quán, chưa chắc còn gặp lại lần sau. Gia đình tôi ở quê hương thứ hai này chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay. Cuộc sống các con tôi hấp thụ nhiều trong xã hội mới. Cuộc sống của tôi bị giằng co giữa hai nếp sống, nên phải tập quen để không thấy phiền lòng. Cuộc sống cô Út vậy mà hạnh phúc, dù cô độc nhưng không cô đơn, vì quanh cô vẫn còn những yêu thương gia tộc qua nhiều thế hệ. Mảnh đất mà chúng tôi được sanh ra và lớn lên vẫn còn đó cưu mang những thế hệ tiếp nối. Từ lòng đất này tổ tiên đêm ngày nghe từng gót chân rộn ràng, tiếng cười vang vang của những người cùng huyết thống. Rồi đây, những ngày cô Út sống trong căn nhà này sẽ trở thành kỷ niệm theo cô suốt cuộc đời, trong đó từng người mà cô đã gặp ở vùng đất này đã thủ diễn tròn vai mình trong giấc mơ của cô.
 
... ."Em có nằm mơ cũng không dám nghĩ rằng có ngày được gặp anh trên đất Mỹ"! Anh Năm tiễn chào cô, cảm ơn những người đã giúp anh em tôi trong suốt thời gian cô lưu lại xứ này, và cảm ơn Kim Anh đã giúp cô Út cảm thấy dễ dàng trong những ngày đầu nơi vùng đất lạ.

Phạm Văn Hòa
Tháng 11, 2017
 

.

-  Má! Coi thằng Năm quét nhà không sạch, từ sau ra trước có vài chổi, quơ rác vô dưới giường kìa!

- Má! Thằng Năm không lo tưới cây, đi mất theo mấy đứa bạn!

- Má! Thằng Năm...

Từ bếp hay từ đâu đó vọng ra:

- Hòa! Đi chơi chút rồi về làm công chuyện nghe chưa!

Tôi hướng về phía chị Hai:

- Dạ! Thật to cố cho chị Hai nghe rồi dông mất, làm chị Hai tức cành hông!

Tôi như chú lính ba gai trong gia đình này, nhưng không đến đổi bị phạt tù. Còn chị Hai như Hạ sĩ quan thường vụ, lúc nào cũng để mắt vào tôi. Tối ngày cứ méc má vì tánh ham chơi... làm ăn ẩu tả của tôi. Tôi là đứa con thứ tư trong gia đình năm anh chị em. Anh Ba của tôi thì tánh tình đâu vào đó, được mọi người trong xóm thương mến. Còn tôi thì ngược lại. Con rạch nhỏ trước nhà cũng không yên với tôi và đám bạn, ngày tắm không biết bao nhiêu lần. Càng tắm thì mình mẩy càng đóng mốc. Mấy con cá trong khúc rạch trước nhà tôi cũng sống không yên.

Chị Hai là chị cả trong gia đình, là cánh tay mặt của má. Chị chỉ đi học đến lớp Ba, đủ biết đánh vần thì phải nghỉ để lo cho đàn em. Cả đời chị hy sinh. Bởi vậy tôi sợ chị Hai còn hơn sợ má. Dù chị bận tíu tít việc nhà, việc chợ, việc nấu nướng trong ngoài nhưng dáng chị lúc nào cũng khoan thai. Chị rất giỏi về bếp núc, bánh trái rất khéo. Chị là cô gái đẹp trong xóm. Môi chị thật hồng, thật đầy đặn. Khuôn mặt trái xoan và sóng mũi dọc dừa rất hợp với cặp mắt thật hiền. Chị lại bắt chước má, thỉnh thoảng bới tóc, nhai trầu, nên môi chị càng đỏ hơn. Răng chị trắng bóng nhờ đánh bằng vỏ cau hàng ngày. Mái tóc chị được gội bằng nước tro lóng, mượt mà mỗi khi chị xõa tóc hong nắng sau khi gội đầu. Bởi nhan sắc của chị, nên đã lọt vào mắt của thầy Đội Cầm là lính Tây. Thuở đó lên đến chức thầy Đội là "le lói" lắm. Thầy đội mũ calot, một loại bê-rê, theo cấp bậc có màu ngà ngà trắng hay vàng ở giữa. Thầy hay đến thăm nom gia đình tôi mỗi khi có dịp công tác qua đây. Lâu lâu thầy đội Cầm dẫn tôi đi chơi. Mỗi lần như vậy, chị Hai thường tự tay tắm táp kỳ cọ cho tôi. Chỉ sợ để tôi dơ thì kỳ với thầy đội Cầm. Nghe đến chị Hai tắm cho, tôi sợ quíu người vì thể nào cũng bị mắng "tắm mỗi ngày cả chục lần mà nhượng chân hờm không, vậy tắm cái gì!".  Câu "Vậy tắm cái gì" được chị gằn giọng và kỳ mạnh vào nhượng chân đau điếng. Chưa hết!  Sau đó đến màn chải đầu. Chị lấy dầu dừa xức lên đầu tôi bóng loáng. Khi chải xong còn nhấn cái móc câu, mà chị gọi là trăng lưỡi liềm, phía trán bên trái. Thiệt tình, tôi không còn hứng thú nào để đi chơi với thầy đội Cầm sau khi được chị Hai "diện" cho mình. 

Ấy vậy mà dù chị thích thầy đội Cầm có chức tước, nhưng vì phải rời nhà theo ông ấy chị Hai không chịu, nên chuyện của chị và thầy đội Cầm coi như dang dở. Viết đến đây tôi không dám dùng chữ "chuyện tình của chị Hai và Thầy đội Cầm",  trong đầu tôi đến giờ phút này không nghĩ là có chuyện "yêu đương" gì đâu! Vì em mà chị hy sinh, lần đầu bỏ học để trông đàn em, lần này không lấy chồng để còn bên cạnh gia đình lo cho em út. Thời đẹp nhất của người con gái, chị không được hưởng mà đã hai lần hy sinh! Và sau đó vài năm, cũng do mai mối, chị thành hôn với anh rể tôi, là con trai trưởng của chủ xe đò chạy đường Sóc Trăng - Tam Sóc. Các cháu của tôi cứ tuần tự ra đời, trai có gái có đến sáu đứa. Gia đình chị Hai vẫn ở với gia đình tôi. Sở dĩ anh rể tôi chịu "ở rể" vì đây là điều kiện của chị Hai. Bây giờ mới cảm nhận được tình gia đình và thương em út của chị Hai vượt hẳn những gì mà đầu óc tôi mường tượng được. 

Càng nghĩ càng thương chị nhiều hơn!

Tôi, có lẽ là đứa bị chị la rầy luôn vì tánh lục-lăng, nhưng chị thương tôi nhiều nhất vì chị biết tôi thích và muốn gì. Nhớ những lúc chị sanh nở, má tôi kho thịt nạc kho tiêu thật cay, thật mặn cho người mới sanh. Chị biết tôi thích, thường lén sớt thịt kho tiêu cho tôi, giấu dưới đáy chén cơm vì sợ má rầy tôi ăn phần của chị. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ thấy lòng của chị đối với em mình. Tôi còn nhớ cứ mỗi lần mấy đứa bạn rủ rê, tôi xin chị thì y như rằng nghe câu, muốn đi chơi thì quét nhà hay làm gì gì đó xong rồi hẳn đi. Có hôm làm dối vì mấy đứa bạn cứ kè kè ra dấu thập thò ngoài ngõ, vừa "dọt" ra khỏi nhà thì chị Hai gọi giật hay méc má. Một lần tôi làm gan cãi lời chỉ vì ham chơi, bị chị rượt tới ổ lúc trời chạng vạng tối. Khác với những lần trước, chị hay bỏ cuộc không rượt theo bởi làm sao chị bắt kịp. Lần này tôi càng chạy, chị càng rượt. Sợ quê với mấy thằng bạn, tôi cắm đầu chạy. Đến khi chị bỏ về lúc nào không hay, thì tôi đã đi quá xa. Trời tối, xóm nhà quê đường sá tối om om! Tôi lại sợ ma, không dám về vì ngang am ngang miếu, đành phải đợi có chiếc xe đạp nào chạy hướng về nhà để tôi chạy theo. Càng chạy tôi càng nghe tiếng thình thịch sau lưng. Khi ngang qua am, ngang qua miếu, tôi cảm thấy lạnh sau gáy nổi da gà đầy người. Khi về đến nhà thì lần này tôi không chạy đâu khỏi. Chị đón ở cửa quất cho mấy roi. Tôi không dám chạy, đứng yên cho chị Hai đánh. Sau cơn giận, chị kêu tôi lại lấy muối chà vào đít cho bớt lằn roi. Rơm rớm nước mắt, chị nói:

-  Lần sau không được chạy nghe chưa!

Tôi nghẹn ngào gật đầu.

Đó chị Hai tôi thương em nên cho roi cho vọt!

Sau này học hành đỗ đạt. Đi xa nhà, lâu lâu về quê thăm gia đình. Chị Hai đổi cách xưng hô, gọi tôi là "Cậu Năm" thay vì thằng Năm hay thằng Hòa. Chị vẫn vậy, tác chị không già, nhưng có vẻ chậm chạp hơn xưa. Hai chị em ngồi kể chuyện xưa, chị nhắc tôi là đứa "nói nhây nhất nhà". Muốn gì là xin cho bằng được. Tôi nhớ dạo đó chị bắt tôi làm xong công việc mới cho đi chơi. Tôi lằng nhằng:

-  Chị Hai! Nghe "Chai"! Tiếng "Chị Hai" cứ nghe như là "CHAI".

Tôi càng nằn nì. Chốc chốc: "Nghe CHAI"!, "Nghe CHAI"! Chị bớt công việc khác nhẹ hơn, nhẹ hơn nữa.  Rốt cuộc như để thị oai, chị "phán":

- Thôi! Lấy chổi lông gà quét bụi bộ ngựa gõ rồi đi đâu thì đi! 

Tôi chỉ mong có thế.  Phủi bụi sơ sơ, quay qua quay lại là tôi dông mất.    

Có lẽ tôi giống chị Hai ở chỗ mau nước mắt. Có người chế nhạo. Tôi không hề giận, mà ngầm cảm ơn tánh Trời ban dễ bộc lộ cảm xúc thay tiếng nói con tim, dù nay tóc đã bạc, tuổi đời đã cao. Hưởng lộc trời từng ngày, hạnh phúc được thức giấc lúc ban mai để thấy hừng đông, và ngắm hoàng hôn khi ánh chiều tà. Nước mắt vẫn chưa cạn. Cảm xúc vẫn còn. Con tim vẫn thổn thức theo từng nhịp đập trong lồng ngực. Bao nhiêu lần tiễn bè bạn lần cuối. Vào tuổi thất thập, bạn mới tìm không ra, mà bạn cũ như những giọt nước cuối cùng tí tách rơi. Gần đây, đang khi lo tang lễ cho thằng bạn thân thì ban đêm điện thoại reo. Nhìn số đầu "011 84" tôi biết có điều gì bất thường. Bên kia đầu dây:

- Báo anh Năm hay chị Hai vừa mới mất! Giọng đứa em Út trong tiếng nghẹn ngào.

Trời ơi! Chuyện buồn sao cứ dồn dập. Cái chết sao đến quá dễ dàng như vậy. Một bên là bạn, một bên là chị của tôi!

***

Chị Hai đã vĩnh viễn xa rời đàn em, để đoàn tụ cùng chồng chị và ba má!   

Con chim đầu đàn đã xoải cánh bay cao, cao mãi về chốn hư không. Chị tôi mắc nợ đàn em và hy sinh quá nhiều, bây giờ đã trả xong và trở về nhà thơ thới. Chị đau không lâu, chỉ một tuần rồi mất. Cho đến khi các em khôn lớn, chị vẫn không đi xa căn nhà cũ. Chị cất nhà ngay bên kia đường đối diện với căn nhà năm xưa, nơi chất chứa bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu. Gia đình nghèo khó, nhưng giàu tình yêu thương. Cả nhà chúng tôi, cho đến giờ này tôn ti trật tự vẫn còn, đứa em không bao giờ dám cãi lời anh chị. Đám tang của chị Hai được mấy em của chị và con cháu lo lắng chu toàn. Chỉ thiếu mình tôi, đứa em được chị thương yêu nhất. Sau này chẳng mấy khi chị em gặp nhau. Nhưng mỗi lần gặp mặt chị thường dặn dò:

- Cậu Năm, xứ lạ quê người nhớ lo cho mợ Năm, gắng lo cho mấy cháu học hành thành tài. Đó là điều ba má mong mỏi. Cậu còn nhớ ba vẫn thường bảo "Con hơn cha là nhà có phước" không?

Tôi nghẹn ngào gật đầu. Chị Hai đưa chéo khăn đội đầu lên chậm mắt. Tôi khoác tay lên vai chị cảm nhận từng tiếng thút thít truyền sang. Hai chị em không nói gì thêm cho đến khi tôi từ giã lần chót cách nay gần mười năm. Sau này, mỗi lần gọi điện thoại thăm hỏi chị cũng khuyên bảo tôi y hệt, dù nhà tôi đã mất từ lâu. Sức khỏe chị ngày càng yếu, nhưng vẫn minh mẫn, hay nhắc đến tôi là "Thằng Năm lạc loài". Tôi là đứa con, đứa em lưu lạc. Cái số xa nhà "con ngựa xổng chuồng khó cầm cương" như ba má tôi lúc sanh tiền vẫn thường nói. Ngày ba mất, tôi ở miền Trung, khi về đến nhà thì áo quan đã đậy nắp. Ngày má mất thì tôi ở xa vạn dặm không kịp về. Và lần này chị Hai mất, tôi cũng xa vạn dặm, nhưng không thể về vì giữ lời trăng trối lo tang lễ cho đứa bạn thân. 

Có phải là cái số của tôi hay không???

 

Chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Tôi phải vĩnh biệt đứa con dâu, đứa bạn thân cùng khóa cùng lúc với người chị cột trụ gia đình. Bao nhiêu thăng trầm cho một đời người. Bao nhiêu dự tính và ước nguyện cho tương lai. Nhưng không ai vượt qua phần số mà mỗi chúng ta được an bài. Cuộc sống con người có hợp rồi tan. Các tinh thể kết thành vật thể để rồi cuối cùng trở về nguyên trạng lúc ban đầu, theo chu trình biến hóa. Đây là điều tôi tự an ủi đêm đêm khi nghĩ về kiếp người và cuộc sống cô đơn của mình.

Tôi khóc để tiễn đưa chị Hai. Bao nhiêu kỷ niệm xa xưa hiện về mà từ lâu tưởng như ngủ yên trong tiềm thức. Bây giờ tôi đã già, nhưng vẫn bé thơ khi nghĩ về chị Hai. Khi còn sanh tiền, không mấy khi chị rời nơi chôn nhau cắt rún. Giờ đây đối với chị thời gian, không gian không là bức tường cách trở. Mãi tít trên cao, nơi không biên giới, chị thấy cuộc đời con người, và thấy cả tấm lòng của Thằng Năm, Thằng Hòa, Cậu Năm, mà 83 năm qua chị đã gọi tên đứa em lưu lạc. Tình thương chị Hai sánh tợ "Biển Thái Bình dạt dào". Những giọt nước mắt của chị long lanh như kim cương, khi chị em lâu ngày gặp nhỏ to tâm sự, vẫn in đậm trong lòng tôi cho đến ngày nhắm mắt.

Vĩnh Biệt Chị Hai của thằng Năm, thằng Hòa, hay cậu Năm... chị thích gọi là gì cũng được "NGHE CHAI"!

Phạm Văn Hòa  

 

 

 

"Em có nằm mơ cũng không dám nghĩ có ngày được gặp anh trên đất Mỹ".

Cho dù em có nằm mơ
Cũng không dám nghĩ có cơ hội gì!
Gặp anh Năm ở Hoa Kỳ
Bốn mươi năm tuổi xuân thì cũng phai
Gặp nhau đôi mắt nhầu cay
Hình như dáng cũ đổi thay quá nhiều
Tóc anh trắng muối hơn tiêu
Trán nhăn, râu bạc thấy tiều tụy hơn
Thuở nào quan chức oai phong
Lo em ăn học tình trong gia đình
Kính anh! Em nguyện với mình
Anh như Từ Phụ em xin khắc lòng
Tính anh lễ nghĩa Á đông
Chị dâu em cũng hết lòng tòng phu

Thời gian như cánh phù du
Anh em xa cách biệt mù không gian
Mẹ Cha khuất bóng giữa đàng
Còn anh gương sáng gia đình noi theo
Thuở xưa cuộc sống tuy nghèo
Lời Cha Mẹ dạy thêm vào lời anh
Xóm ta ai cũng sẵn dành
Sự thương kính nét trưởng thành của anh
Nhà mình hãnh diện đã đành
Thầy Cô bè bạn thương anh hết lòng

Houston nắng ấm tình nồng
Ơn anh, cùng bạn thật không bến bờ
Tưởng chừng em lạc vào mơ
Bao lo lắng ngỡ, đợi chờ từ lâu
Miếng ăn giấc ngủ canh thâu
Giật mình khuya tưởng anh đâu mới về!

Thương anh thương cả tình quê
Vắng anh thôn xóm càng thê thiết buồn
Ở đây trời cũng mưa tuôn
Nên chi nước mắt chảy suông xuống đời
Thương thời anh sống lẻ loi
Mừng nay có chị lo ngoài lẫn trong
Cao sang ở tự cõi lòng
Chúc anh với chị phụng loan tuyệt vời
Bao kỷ niệm của một thời
Làm sao nối lại chuyện đời năm xưa
Em nghe như thể mới vừa
Cùng Cha Mẹ nắng mưa quanh quẩn nhà
Rồi anh chợt bỏ đi xa
Biết bao nước mắt khóc buồn nhớ thương
Nhà tan khi nước nhiễu nhương
Anh đi, nên khỏi thân vương tội tù

Cali trời đất vào thu
Theo anh họp bạn, giấc mơ đạt thành
Bạn cùng quê, bạn tuổi xanh
"Mày, tao" ngày ấy thêm lần gửi trao
Nhớ ơi, ánh mắt lời chào!
Nghe trong giọng hát ngọt ngào tình quê

Một lần đi! Một lần về!
Bao giờ gặp lại cận kề người thân
Sáng nghe tiếng gió bâng khuâng
Thấy nơi dáng nắng tần ngần đợi ai
Con chim đứng hót rồi bay
Hình em in bóng ngày mai xa rồi...
Nhìn hình Cha Mẹ hiền từ
Bàn thờ hương khói thật hư mỉm cười

Đã hơn bốn mươi năm trời
Anh em gặp lại vá đời nổi trôi
Cám ơn đời dẫu chia phôi!
Vẫn còn tình nghĩa anh tôi thuở nào
Dù cho Mỹ, Việt cách nhau
Anh luôn tìm cách xoa đau gia đình

Và em trong mỗi bình sinh 
Nguyện cầu anh chị trọn tình yêu thương
Biết rằng trên mỗi con đường
Có ngàn sỏi đá bụi vương khói mờ
Lá vàng rụng chữ vào thơ
Tương lai quá khứ lững lờ thả bay
 
Tạ từ có lối chia hai
Mà lòng vẫn mãi... hoài hoài nhớ anh
Cám ơn hồi đó tuổi xanh
Em còn biếc lá đeo cành... "Anh Năm"!

AnhHoaCoUt2

Songthy
* Thương gửi Cô Út với kỷ niệm những ngày viếng thăm Anh Năm trên đất Mỹ